Hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo Quyết định 699/QĐ-BNNMT
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo Quyết định 699/QĐ-BNNMT

Hạn ngạch phát thải khí nhà kính là lượng phát thải khí nhà kính tối đa được cơ quan có thẩm quyền phân bổ cho một cơ sở phát thải trong một giai đoạn nhất định, tính theo tấn CO₂ tương đương. Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tiếp cận khí nhà kính qua hoạt động kiểm kê và lập báo cáo, thì từ năm 2026, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT ngày 27/02/2026 đã đưa hạn ngạch phát thải khí nhà kính vào giai đoạn triển khai cụ thể ở cấp cơ sở. Quyết định này thí điểm phân bổ hạn ngạch cho năm 2025 và 2026 đối với 110 cơ sở thuộc 3 ngành phát thải lớn: nhiệt điện, sản xuất sắt thép và sản xuất xi măng.
Điểm quan trọng của Quyết định 699/QĐ-BNNMT không chỉ nằm ở việc xác định doanh nghiệp nào được phân bổ bao nhiêu hạn ngạch, mà còn ở chỗ nó đánh dấu sự chuyển dịch từ “đo lường phát thải” sang “quản lý phát thải có giới hạn”. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính có trách nhiệm nộp trả hạn ngạch theo quy định tại Điều 19 Nghị định 06/2022/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP. Đây là nền tảng quan trọng để thị trường các-bon trong nước từng bước đi vào vận hành thực tế.
| Nội dung | Thông tin trọng tâm |
|---|---|
| Văn bản trọng tâm | Quyết định 699/QĐ-BNNMT ngày 27/02/2026 |
| Nội dung chính | Thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và 2026 ở cấp cơ sở |
| Cơ sở pháp lý nền tảng | Quyết định 263/QĐ-TTg; Nghị định 06/2022/NĐ-CP; Nghị định 119/2025/NĐ-CP |
| Đối tượng được phân bổ | 110 cơ sở thuộc ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng |
| Cơ cấu cơ sở | 34 nhà máy nhiệt điện; 25 cơ sở sản xuất sắt thép; 51 cơ sở sản xuất xi măng |
| Tổng hạn ngạch năm 2025 | 243.082.392 tấn CO₂tđ |
| Tổng hạn ngạch năm 2026 | 268.391.454 tấn CO₂tđ |
| Nghĩa vụ quan trọng | Nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo quy định |
| Ý nghĩa với doanh nghiệp |
Kiểm kê chính xác, kiểm soát phát thải, chuẩn bị cho cơ chế thị trường các-bon Có báo cáo kiểm kê khí nhà kính |
>>> Quyết định 699/QĐ-BNNMT: Doanh nghiệp cần làm gì ngay?
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính có thể hiểu là “trần phát thải” được phân bổ cho một cơ sở trong kỳ áp dụng. Mỗi cơ sở nhận một lượng hạn ngạch xác định, tính bằng tấn CO₂ tương đương, để làm căn cứ quản lý lượng phát thải thực tế trong năm. Theo cơ chế được thiết kế trong chính sách khí hậu Việt Nam, việc phân bổ hạn ngạch là một trong những công cụ quan trọng để kiểm soát phát thải, thúc đẩy doanh nghiệp giảm cường độ carbon và tạo tiền đề cho giao dịch các-bon.
Khác với hoạt động kiểm kê khí nhà kính, vốn tập trung vào việc đo lường và báo cáo lượng phát thải, hạn ngạch phát thải khí nhà kính gắn với trách nhiệm quản lý kết quả phát thải sau kiểm kê. Có thể hình dung theo chuỗi logic:
Kiểm kê phát thải → Xác định lượng phát thải thực tế → Đối chiếu với hạn ngạch được phân bổ → Thực hiện nghĩa vụ nộp trả hạn ngạch theo quy định.
Chính vì vậy, khi cơ chế hạn ngạch bắt đầu được triển khai, chất lượng của dữ liệu kiểm kê không còn chỉ phục vụ mục đích báo cáo, mà trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ của doanh nghiệp.
Ngày 27/02/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT về việc thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho năm 2025 và năm 2026. Đây là văn bản cụ thể hóa Quyết định 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho giai đoạn 2025–2026.
Nếu Quyết định 263/QĐ-TTg xác lập “tổng hạn ngạch” ở tầm quốc gia cho nhóm ngành thí điểm, thì Quyết định 699/QĐ-BNNMT đi thêm một bước: phân bổ cụ thể hạn ngạch đến từng cơ sở trong danh sách áp dụng. Theo thông tin từ Cục Biến đổi khí hậu, văn bản này đánh dấu quá trình chuyển từ chính sách vĩ mô sang triển khai thực tế ở cấp doanh nghiệp/cơ sở phát thải.
Quyết định 699/QĐ-BNNMT xác định các cơ sở được phân bổ hạn ngạch có trách nhiệm thực hiện nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo Điều 19 của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP. Điều này cho thấy hạn ngạch không phải là thông tin tham khảo, mà là căn cứ pháp lý gắn với trách nhiệm tuân thủ của doanh nghiệp trong giai đoạn thí điểm.

>>>Giảm phát thải khí nhà kính là gì? Chi phí, quy trình thực hiện
Quyết định 699/QĐ-BNNMT áp dụng đối với 110 cơ sở phát thải lớn thuộc 3 nhóm ngành:
| Nhóm ngành | Số cơ sở được phân bổ hạn ngạch |
|---|---|
| Nhà máy nhiệt điện | 34 |
| Cơ sở sản xuất sắt thép | 25 |
| Cơ sở sản xuất xi măng | 51 |
| Tổng cộng | 110 |
Đây đều là các lĩnh vực có cường độ phát thải cao và đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc phát thải công nghiệp của Việt Nam. Theo phương pháp phân bổ được nêu tại phụ lục của Nghị định 119/2025/NĐ-CP, nhóm đối tượng được phân bổ gồm: nhà máy nhiệt điện than, dầu, khí; cơ sở sản xuất thép thô; và cơ sở sản xuất clinker.
Việc lựa chọn ba ngành này cho giai đoạn thí điểm thể hiện cách tiếp cận có trọng tâm: trước hết triển khai với các ngành phát thải lớn, có dữ liệu hoạt động tương đối rõ và có vai trò quan trọng trong xây dựng thị trường các-bon nội địa.
Theo Quyết định 263/QĐ-TTg, tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm được phê duyệt cho giai đoạn đầu như sau:
| Năm | Tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính |
|---|---|
| 2025 | 243.082.392 tấn CO₂ tương đương |
| 2026 | 268.391.454 tấn CO₂ tương đương |
Tổng hạn ngạch này được sử dụng làm cơ sở để Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với các bộ quản lý ngành phân bổ cụ thể cho từng cơ sở trong các lĩnh vực nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Sau bước phê duyệt tổng hạn ngạch tại Quyết định 263/QĐ-TTg, Quyết định 699/QĐ-BNNMT đã hiện thực hóa việc phân bổ đến từng cơ sở được chỉ định.
Phụ lục của Nghị định 119/2025/NĐ-CP nêu phương pháp xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho cơ sở được phân bổ. Về bản chất, hạn ngạch được tính toán dựa trên ba nhóm yếu tố chính:
Công thức được thể hiện theo logic:
Hạn ngạch phân bổ = Sản lượng trung bình × Cường độ phát thải trung bình × Hệ số điều chỉnh
Cách tiếp cận này cho thấy hạn ngạch phát thải khí nhà kính không được phân bổ tùy ý, mà dựa trên dữ liệu vận hành, đặc thù ngành và lộ trình giảm phát thải. Do đó, doanh nghiệp muốn hiểu vì sao mình được phân bổ mức hạn ngạch cụ thể cần đồng thời xem xét ba lớp dữ liệu: sản lượng lịch sử, hệ số phát thải/cường độ phát thải và hệ số điều chỉnh áp dụng cho ngành.
Điểm cốt lõi trong Quyết định 699/QĐ-BNNMT là quy định các cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính phải thực hiện trách nhiệm nộp trả hạn ngạch theo Điều 19 Nghị định 06/2022/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2025/NĐ-CP.
Về mặt quản trị, điều này kéo theo một số yêu cầu thực tế đối với doanh nghiệp:
Việc Chính phủ ban hành Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước, có hiệu lực từ ngày 19/01/2026, tiếp tục cho thấy hạn ngạch phát thải khí nhà kính sẽ không đứng riêng lẻ mà gắn trực tiếp với cơ chế thị trường carbon nội địa.
>>>Kiểm kê khí nhà kính là gì? Quy định, quy trình, chi phí triển khai
Trước khi có thể quản lý hạn ngạch phát thải khí nhà kính, doanh nghiệp cần đo được lượng phát thải của chính mình. Do đó, kiểm kê khí nhà kính trở thành nền tảng dữ liệu không thể thiếu.
Mối liên hệ giữa hai nội dung này có thể hiểu như sau:
| Nội dung | Vai trò |
|---|---|
| Kiểm kê khí nhà kính | Xác định lượng phát thải thực tế của cơ sở |
| Hạn ngạch phát thải khí nhà kính | Xác định giới hạn phát thải được phân bổ |
| Đối chiếu phát thải và hạn ngạch | Xác định tình trạng tuân thủ, lượng thiếu/hay dư so với phân bổ |
| Nộp trả hạn ngạch | Thực hiện nghĩa vụ theo quy định |
Quyết định 699/QĐ-BNNMT khiến hoạt động kiểm kê không còn chỉ là nghĩa vụ báo cáo định kỳ, mà trở thành một công cụ giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro phát thải. Càng kiểm kê sớm, càng thiết lập dữ liệu tốt, doanh nghiệp càng chủ động khi bước vào giai đoạn quản lý hạn ngạch nghiêm túc hơn.
1. Phát thải trở thành chỉ tiêu phải theo dõi có giới hạn
Trước đây, doanh nghiệp có thể xem phát thải khí nhà kính như một chỉ số môi trường cần báo cáo. Khi được phân bổ hạn ngạch, phát thải trở thành một biến số cần kiểm soát gắn với nghĩa vụ tuân thủ. Nếu sản lượng tăng nhưng công nghệ và hiệu suất phát thải không cải thiện, áp lực hạn ngạch có thể lớn dần.
2. Dữ liệu phát thải phải chính xác hơn
Một báo cáo kiểm kê thiếu dữ liệu, dùng hệ số không phù hợp hoặc không truy xuất được nguồn số liệu sẽ gây rủi ro khi doanh nghiệp cần đối chiếu với hạn ngạch. Trong bối cảnh hạn ngạch gắn với trách nhiệm nộp trả, doanh nghiệp càng cần hệ thống dữ liệu khí nhà kính chuẩn hóa, nhất quán và có khả năng kiểm chứng.
3. Doanh nghiệp cần chuẩn bị kế hoạch giảm phát thải
Nếu muốn kiểm soát tốt việc sử dụng hạn ngạch, doanh nghiệp không thể chỉ tập trung vào báo cáo cuối kỳ. Cần nhận diện các nguồn phát thải trọng yếu, cải thiện hiệu suất năng lượng, tối ưu nhiên liệu, đổi mới công nghệ và xây dựng lộ trình giảm phát thải phù hợp.
4. Hạn ngạch gắn với thị trường các-bon nội địa
Nghị định 29/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước, trong đó có giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Điều này cho thấy hạn ngạch có thể trở thành một loại đơn vị được quản lý, lưu ký và giao dịch trong hệ thống thị trường carbon Việt Nam.
Có. Quyết định 699/QĐ-BNNMT đang áp dụng thí điểm cho 110 cơ sở thuộc 3 ngành phát thải lớn, nhưng ý nghĩa của văn bản không dừng lại ở nhóm này. Đây là bước thử nghiệm chính sách có thể tạo tiền lệ cho việc mở rộng cơ chế phân bổ hạn ngạch trong các giai đoạn tiếp theo, khi Việt Nam tiếp tục hoàn thiện thị trường carbon và khung quản lý phát thải. Cục Biến đổi khí hậu cũng nêu rằng Quyết định 263/QĐ-TTg và Quyết định 699/QĐ-BNNMT đánh dấu quá trình chuyển sang vận hành thực tế thị trường carbon trong nước.
Doanh nghiệp chưa thuộc danh mục phân bổ nên theo dõi sát ba nhóm nội dung:
Chủ động ngay từ giai đoạn này giúp doanh nghiệp tránh bị động khi quy định mở rộng trong tương lai.
>>>Đối tượng bắt buộc kiểm kê khí nhà kính: Doanh nghiệp nào phải thực hiện
Với doanh nghiệp thuộc diện được phân bổ hạn ngạch
Cần thực hiện ngay các việc sau:
Với doanh nghiệp chưa được phân bổ hạn ngạch
Nên chủ động:
Về bản chất, hạn ngạch là lượng phát thải được phân bổ cho cơ sở trong kỳ áp dụng để làm căn cứ quản lý và thực hiện nghĩa vụ nộp trả. Trong giai đoạn thí điểm, doanh nghiệp cần theo dõi sát hướng dẫn thực hiện cụ thể theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP đã được sửa đổi và Quyết định 699/QĐ-BNNMT.
Quyết định áp dụng cho 110 cơ sở thuộc ba ngành: nhiệt điện, sắt thép và xi măng.
Năm 2025 là 243.082.392 tấn CO₂tđ; năm 2026 là 268.391.454 tấn CO₂tđ theo Quyết định 263/QĐ-TTg.
Có sự liên hệ chặt chẽ giữa hai hoạt động. Để đối chiếu với hạn ngạch được phân bổ và thực hiện nghĩa vụ liên quan, doanh nghiệp cần có dữ liệu phát thải thực tế được xác định từ quá trình kiểm kê khí nhà kính.
Có. Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước xác định cơ chế giao dịch liên quan đến hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, cho thấy hạn ngạch là một thành tố quan trọng của thị trường carbon Việt Nam.
Quyết định 699/QĐ-BNNMT là một dấu mốc rất đáng chú ý trong tiến trình quản lý khí nhà kính tại Việt Nam. Lần đầu tiên, hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ cụ thể cho từng cơ sở thuộc các ngành phát thải lớn, đưa chính sách từ cấp tổng thể xuống cấp thực thi. Từ đây, doanh nghiệp không chỉ cần biết mình phát thải bao nhiêu, mà còn phải biết lượng phát thải đó đang nằm ở đâu so với hạn ngạch được giao và nghĩa vụ tuân thủ tương ứng.
Trong bối cảnh thị trường các-bon nội địa đã có khuôn khổ vận hành ban đầu, năng lực kiểm kê, quản trị dữ liệu phát thải và xây dựng kế hoạch giảm carbon sẽ ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh. Với các doanh nghiệp thuộc nhóm được phân bổ hạn ngạch, đây là yêu cầu cấp thiết. Với các doanh nghiệp còn lại, đây là thời điểm cần chuẩn bị sớm để không bị động trước các bước mở rộng chính sách trong tương lai.
Bình luận